Hoạt hình: Qui trình làm việc (workflow) trong diễn hoạt nhân vật

Tôi từng nghe rằng, trở thành 1 nghệ sĩ diễn hoạt nghĩa là bạn phải học cả đời. Không điều gì trung thực hơn thế. Quy trình làm việc của tôi luôn thay đổi. Với mỗi cảnh hoặc nhiệm vụ tôi hoàn thành, dường như luôn có vài thứ tôi thích hoặc không thích về cách làm việc của mình. Hoặc, đôi khi yêu cầu kĩ thuật của một cảnh quyết định quy trình làm việc. Và, bằng cách quan sát cách làm việc của những nghệ sĩ diễn hoạt khác, giúp tôi biết vài điều mới và muốn áp dụng nó vào cảnh/ nhiệm vụ mình chuẩn bị làm. Điểm mấu chốt ở đây là: tìm kiếm một qui trình làm việc tốt nghĩa là cứ việc thử qua mọi thứ, cho đến khi bạn tìm thấy những gì phù hợp với mình. Bản thân tôi vẫn đang tìm kiếm những điều này. Tuy nhiên, tôi sẽ viết ra quy trình làm việc mà tôi thường sử dụng nhất.

Bước 1 – Nghiên cứu, tham khảo:
– Nói chuyện với đạo diễn và người chỉ đạo diễn hoạt (supervisor) trong quá trình bạn thực hiện cảnh.
– Kiểm tra storyboards.
– Xem qua những cảnh trước và sau để tạo sự liền mạch.
– Tìm thêm bất cứ thông tin bổ ích nào liên quan đến cá tính nhân vật.
– Thu thập thông tin về nhân vật hoặc tài liệu về những nhân vật khác.

Bước 2 – Lên kế hoạch:
– Quay video tham khảo (tự quay), thử nhiều loại cảnh khác nhau, chọn cái tốt nhất và sắp xếp vào nhau.
– Thu thập video và hình ảnh tham khảo trên mạng.
– Học hỏi những tài liệu tham khảo.
– Vẽ phác những bản vẽ nhỏ và tư thế chính để tìm ra hình khối tốt nhất (silhouette) cho tư thế.

Bước 3 – Khóa tư thế (trên máy tính):
– Khóa những tư thế chính (kể chuyện/ diễn xuất/ hành động), thông thường là để biểu đồ dạng bước (stepped curves), và key toàn bộ nhân vật ở những vị trí khóa này.
– Khóa những điểm nhấn và những thay đổi hướng trong chuyển động.
– Khóa biểu cảm gương mặt quan trọng.
– Khóa tư thế tay quan trọng.
– Thay đổi tư thế vài lần để tìm nhịp điệu đúng cho cảnh diễn.

Bước 4 – Phân cảnh (breakdowns):
– Đặt tư thế phân cảnh vào giữa những tư thế khóa (key poses), vẫn ở biểu đồ dạng bước.
– Xác định đường cong (thô) của chuyển động, quá đà (overlap) và khoảng cách (spacing).
– Lặp lại tương tự với mặt và tay.
– Ở bước này tôi thường cố gắng đặt mọi ý tưởng chính vào tư thế.
– Và nếu đó là một cảnh đối thoại, tôi sẽ thực hiện tiến trình tương tự với miệng và gương mặt.

Bước 5 – Làm mượt biểu đồ (Spline)
– Nhấn vào nút đáng sợ: Spline, để chuyển mọi đường đồ thị thành đường cong (spline curves) (hoặc clamped, hoặc linear, hoặc auto-tangent, bất cứ cách nào bạn thích sử dụng).
– Thường có vài điều chỉnh nhỏ nhằm điều chỉnh thời gian tổng thể cho tư thế (timing).
– Làm gọn gẽ lại đường đồ thị, nhằm chỉnh chỉnh xác khoản cách (spacing).

Bước 6 – Đánh bóng (Polishing)
– Chú ý vào chi tiết.
– Làm chính xác hơn nữa những điểm tiếp xúc, thường là xem từng frame.
– Dịch chỉnh các tư thế khóa (offsetting keys) nếu cần thiết nhằm chính xác hơn những động tác quá đà.
– Thêm 1 lớp nhỏ hành động phụ, như thở hoặc trố mắt.
– Làm mọi thứ cần thiết nhằm làm cảnh gọn gẽ và rõ ràng nhất, trong giới hạn thời gian được cho phép.

Bước 7 – Xem lại cảnh quay bằng con mắt xoi mói, rất hiếm khi tôi cảm thấy cảnh quay thực sự hoàn tất như tôi mong muốn.
Thường thời gian chết (deadlines) đến nhanh hơn chúng ta trông đợi.

Một điều cuối cùng nên nhớ là: tiến trình làm việc này ít khi nào liền mạch.

Nhận những ghi chú và thay đổi từ đạo diễn và người giám sát thường đồng nghĩa với việc quay lại 1 hoặc 2 bước, thậm chí là lên kế hoạch lại. Đây chỉ là 1 phần của 1 quy trình điên rồ!

Nelson Brown
Dịch: cvbtruong
Nguồn: http://www.animationtipsandtricks.com/2011/04/what-kind-of-workflow-do-you-use.html

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tags

Archives

  • 2016 (4)
  • 2015 (22)
  • 2014 (39)
  • 2013 (59)
  • 2012 (134)
  • 2011 (240)